Thuật xem chữ ký


Khi một người đặt bút kí tức là họ gửi một thông điệp về bản thân ra thế giới bên ngoài. Họ muốn nói cho mọi người biết rằng họ là người thế này, thế kia. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể “đọc” được thông điệp ấy. Để đọc được thông điệp ấy bạn phải là người am hiểu về khoa chiết tự, có kinh nghiệm sống rất phong phú và giác quan vô cùng nhạy bén … Có thể nói việc xem chữ kí chính xác là điều gần như không tưởng. Trên thế giới có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu chữ kí. Có chữ kí cầu kì, sắc sảo; có chữ kí đơn giản, sơ sài … Dù biểu hiện dưới hình thức nào đi nữa nó cũng là kết quả của một quá trình lao động. Chính vì vậy, khi xem chữ kí của bất kì ai bạn phải tìm hiểu xem:

  • Mục đích của chữ kí ấy là gì?

  • Phương pháp, công cụ mà họ dùng để tạo nên chữ kí ấy?

  • Chữ kí ấy biểu hiện như thế nào?

Khi trả lời được ba câu hỏi trên bạn sẽ biết được một phần tham vọng, mục đích, tư tưởng, tư duy, tính cách, thói quen, tâm trạng … của người kí để từ đó có thể phỏng đoán số phận của họ. Tại sao tôi nói là “một phần”? Bởi vì những gì mà chữ kí biểu hiện ra ở hiện tại sẽ còn thay đổi rất nhiều trong tương lai. Những thay đổi đó phụ thuộc vào tác động của hoàn cảnh khách quan và nỗ lực hoàn thiện bản thân của người kí. Cho nên khi xem chữ kí có thể biết được quá khứ, hiện tại nhưng chỉ phỏng đoán được xu hướng tương lai mà thôi!

Hãy quan sát những người kí xung quanh, không phải tự nhiên có người kí thế này, có người kí thế kia. Bất cứ hoạt động lao động nào của con người cũng đều có tính hướng đích. Người có tham vọng, mục đích cao cả hay người an phận thủ thường đều thể hiện ra khi kí. Đó là những chữ kí có nét kí dứt khoát, nhanh mạnh, dâng cao … hay ngập ngừng, chậm nhẹ, đi xuống … Từ việc nắm bắt được tham vọng, mục đích của người kí, ta có thể phỏng đoán về đường công danh, sự nghiệp của họ. Bất cứ việc gì dù to hay nhỏ để đạt được nó trước tiên người thực hiện phải có lòng ham muốn. Tạm gác các yếu tố khác sang một bên, cứ theo lí luận này thì ai có lòng ham muốn càng cao càng có cơ may đạt được ý nguyện của mình.

Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất của con người. Trong quá trình đó, con người so sánh các thông tin thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau. Trải qua quá trình khái quát hóa, trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp … con người rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lí luận … Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến, các qui luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vật nhất định. Tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được từ trước. Chính vì vậy, có thể nói người kí đã bộc lộ tư duy của mình trong khi kí.

Tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lí. Hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lí là hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp. Hoạt động đó diễn ra ở các động vật cấp cao, đặc biệt biểu hiện rõ ở thú linh trưởng và con người. Nhưng tư duy với tư cách là hoạt động tâm lí bậc cao nhất thì chỉ có ở con người và là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của con người. Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, lao động là một trong các yếu tố quyết định để chuyển hóa vượn có dạng người thành con người. Từ chỗ là một loài động vật thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên, con người đã phát triển sự thích ứng đó bằng bản năng thứ hai là tư duy với năng lực trừu tượng hóa ngày càng sâu sắc đến mức nhận thức được bản chất của hiện tượng, qui luật và chính bản thân mình. “Biết người, biết ta trăm trận trăm thắng”. Nếu chữ kí của người nào đó cho thấy khả năng này lớn thì xác suất thành công sẽ cao và ngược lại.

Đối với triết học, tư duy là một khái niệm - phạm trù quan trọng. Khái niệm - phạm trù này giúp lí giải các hoạt động được coi là có tính phi vật chất của con người như giải trí, tín ngưỡng, nghiên cứu, học tập và các hình thức lao động trí lực khác, đồng thời có ảnh hưởng tích cực đối với lao động thể lực. Đối với xã hội, tư duy của cộng đồng người là cơ sở để tạo nên hệ thống tư duy xã hội trong các hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật … Người ta dựa vào tư duy để nhận thức những qui luật khách quan của tự nhiên, xã hội, con người và điều chỉnh hành động của mình phù hợp với các qui luật đó. Một người khởi đầu chữ kí bằng những nét kí vô nghĩa cho thấy người ấy rất mơ hồ về thế giới xung quanh và bản thân. Điều này khác hẳn với một người khởi đầu chữ kí rõ ràng, cụ thể.

Cơ chế hoạt động của tư duy dựa trên hoạt động sinh lí của bộ não với tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp. Không thể tách rời não nhưng tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định. Trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của từng người vừa tự biến đổi qua quá trình hoạt động của bản thân vừa chịu sự tác động biến đổi từ tư duy của đồng loại thông hoạt động có tính vật chất. Do đó, tư duy không chỉ gắn với bộ não của từng người mà còn gắn với sự tiến hóa của xã hội, trở thành một sản phẩm có tính xã hội trong khi vẫn duy trì được tính cá nhân.

Mặc dù được tạo thành từ kết quả hoạt động thực tiễn nhưng tư duy có tính độc lập tương đối. Sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy còn chịu ảnh hưởng của toàn bộ tri thức mà nhân loại đã tích lũy được trước đó. Tư duy cũng chịu ảnh hưởng, tác động của các lí thuyết, quan điểm tồn tại cùng thời với nó. Mặt khác, tư duy cũng có logic phát triển nội tại riêng của nó, đó là sự phản ánh đặc thù logic khách quan theo cách hiểu riêng gắn với mỗi con người. Tính độc lập của tư duy vừa làm cho nó có được tính tích cực, sáng tạo trong quá trình tìm kiếm tri thức mới, vừa là điều kiện nguồn gốc làm cho tư duy dần dần xa rời hiện thực khách quan. Để khắc phục mặt trái này của tư duy, người ta thường sử dụng thực tiễn để kiểm tra, kiểm nghiệm tính đúng đắn của tư duy.

Nhiều người khi kí cho ta biết rằng người ấy chịu sự chi phối của người khác, làm theo cảm hứng thông qua việc thêm những biểu tượng này nọ vào chữ kí (bắt chước). Người có tư duy như vậy không phù hợp với cương vị lãnh đạo mà sẽ thích hợp với công việc cần sự giao tiếp hơn.

Nhu cầu giao tiếp của con người là điều kiện cần để phát sinh ngôn ngũ. Kết quả tư duy được ghi lại bởi ngôn ngữ. Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền với ngôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ. Vì vậy, ngôn ngữ chính là cái vỏ vật chất của tư duy. Ở thời kì sơ khai, tư duy được hình thành thông qua hoạt động vật chất của con người và từng bước đuợc ghi lại bằng các kí hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp, từ cụ thể đến trừu tượng. Hệ thống các kí hiệu đó thông qua quá trình xã hội hóa trở thành ngôn ngữ. Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của tư duy và tư duy cũng bắt đầu phụ thuộc vào ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai trở thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con người, phát triển cùng với nhu cầu của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hóa lao động.

Tư duy là kết quả của nhận thức đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức. Xuất phát điểm của nhận thức là những cảm giác, tri giác và biểu tượng … được phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bên ngoài được phản ánh một cách riêng lẻ. Giai đoạn này được gọi là tư duy cụ thể. Ở giai đoạn sau, với sự hỗ trợ của ngôn ngữ, hoạt động tư duy tiến hành các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, qui nạp những thông tin đơn lẻ, gắn chúng vào mối liên hệ phổ biến, lọc bỏ những cái ngẫu nhiên, không căn bản của sự việc để tìm ra nội dung và bản chất của sự vật, hiện tượng, qui nạp nó thành những khái niệm, phạm trù, định luật … Giai đoạn này được gọi là giai đoạn tư duy trừu tượng.

Chữ kí là biểu tượng của một người. Thông qua biểu tượng này người kí muốn chuyển tải thông điệp mà mình muốn nói với mọi người bằng khả năng tư duy trừu tượng. Xem xét khả năng ấy biểu hiện như thế nào giúp ta khám phá được năng lực tư duy của người ấy.
Xem PDF